Không ít thư tịch cổ
Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại đã trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Theo lịch sử Trung Quốc, năm 218 TCN, Tần Thủy
Hoàng tiến hành chinh phục phương nam và 214 TCN xâm lược Văn Lang - Âu Lạc
(Việt Nam ngày nay). Cuộc chiến đấu của nhân dân Văn Lang - Âu Lạc kéo dài từ
năm 214-208 TCN giành thắng lợi vẻ vang.
Cuộc chiến đấu này chỉ diễn ra ở phía Bắc lưu
vực sông Hồng của lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc. Vì vậy, quân Tần chưa thể đặt
chân đến vùng Nam sông Hồng, nên không thể vượt biển để đến Hoàng Sa, Trường Sa
giữa biển khơi.
Khi nhà Hán thay nhà Tần và tiến hành mở rộng
đất về phương Nam, dù chiếm được ba nước Việt (Đông Việt, Mân Việt và Nam
Việt), nhưng Tây Hán không có một chút thế lực gì trên biển ở khu vực dưới vĩ
độ 20 độ Bắc.
Hoàng Sa thuộc về Giao Châu
Giao Châu dị vật chí của Dương Phù (đời Đông
Hán, 25-220 SCN) nói về những điều lạ của xứ nước ngoài mô tả địa danh Trướng
Hải như sau: “Tại Trướng Hải Kỳ Đầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền
lớn đi ngoài cõi, dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra”.
Đến thời Tam Quốc (năm 220-265), Vạn Chấn viết
cuốn Nam Châu dị vật chí mô tả về các đảo đá và cát trên Biển Đông. Đây là cuốn
sách ghi chép lại những điều lạ ở nước ngoài, không phải điều lạ ở Trung Quốc.
Thời kỳ 785-805 thời nhà Đường, Giã Đam làm sách
Tứ di lộ trình ghi đường biển từ Quảng Châu đến Một Lai (Malabar) không thấy đề
cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng dưới đời Đường có sách Đường thư nghệ văn
chí đề cập tới cuốn Giao Châu dị vật chí của Dương Phù chép những chuyện kỳ dị,
những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương
(nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền
ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được.
Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc
về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam).
Đời Nam Tống, cuốn Lĩnh ngoại đại đáp của Châu
Khứ Phi xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tạo lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư
phiên đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ Trung Quốc với các nước khác
ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là vịnh Bắc
Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa vịnh Bắc Bộ hàng trăm
dặm về phía nam.
Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà
Tống cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước
khác, Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.
Cực nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam
Đến thế kỷ 12, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Tống
trong cuốn Chư phiên chí xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà
Hán. Theo đó, năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch
quân (Nam Việt) và đặt ra hai quân Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam).
Sách này cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa
(Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Quốc không nên đến gần.
Nhan đề sách là Chư phiên chí, nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài.
Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc
về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời
nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.
Trong Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được
vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng dư đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561, phần
cực nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam.
Triều nhà Minh, trong cuốn Vũ bị chí của Mao
Nguyên Nghi, Biển Đông được gọi là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hòa hạ
Tây Dương, Trịnh Hòa hàng hải đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng
Sa, Trường Sa trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển
Đông để khai phá Ấn Độ Dương.
Đời nhà Thanh, trong cuốn Hải ngoại ký sự viết
năm 1696, Thích Đại Sán - một nhà sư thời Khang Hy đến đất Thuận Hóa của chúa
Nguyễn năm Ất Hợi (1695) mô tả vị trí Vạn Lý Trường Sa là “cách Đại Việt bảy
ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh
cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư tấp vào bờ”.
Đây là sự ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong
kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông, nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa bởi lẽ, Hải ngoại ký sự là do người Trung Quốc viết về những điều
được biết đến ở nước ngoài, chứ không phải viết về Trung Quốc.
Đến thế kỷ 19, trong bộ Hải quốc đồ ký, cuốn Hải
lục của Vương Bỉnh Nam chép: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát ngoài biển
được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu
này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của
Việt Nam.
Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng
bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng
của chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa nêu lý do: “Hoàng Sa không
liên hệ gì tới Trung Quốc”.
Như vậy, qua các tài liệu lịch sử cổ của Trung
Quốc, rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là
Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ
một cách hòa bình và liên tục, không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào kể
cả Trung Quốc.
Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa
là cuốn Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ do Hàn lâm viện Trung Quốc xuất bản
tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài Nghiên cứu về lịch sử
và địa lý nhận định: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa
học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”.
Các căn cứ từ xa xưa để lại đều khẳng định Trường Sa và Hoàng Sa là chủ quyền của Việt Nam
Trả lờiXóa